Bài đăng ngày: 20/03/2014

The code message

TỨ THƯ TẬP CHÚ

“TỨ THƯ TẬP CHÚ” là tên gọi tắt của sách “Tứ thư chương cú tập chú”, tác giả là Chu Hi (1130 - 1200), một nhà kinh học nối tiếng đời Tống. Ông đã chú giải 4 sách Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử, gồm “Đại Học chương cú” 1 quyển, “Trung Dung chương cú” 1 quyển, “Luận Ngữ tập chú” 10 quyển và “Mạnh Tử tập chú” 7 quyển

 

“TỨ THƯ TẬP CHÚ” là tên gọi tắt của sách “Tứ thư chương cú tập chú”, tác giả là Chu Hi (1130 - 1200), một nhà kinh học nối tiếng đời Tống. Ông đã chú giải 4 sách Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử, gồm “Đại Học chương cú” 1 quyển, “Trung Dung chương cú” 1 quyển, “Luận Ngữ tập chú” 10 quyển và “Mạnh Tử tập chú” 7 quyển.

Theo tự thuật, Chu Hi đã bỏ công phu trước thuật gần hai mươi năm mới hoàn thành, nhân khi dẫn dụng nhiều cách giải thích của nhị Trình, và các nhà khác, nên ông đặt tên là “tập chú”.

Nho giáo có từ thời Nghiêu Thuấn, cách đây năm ngàn năm, được phát huy mạnh mẽ nhờ Khổng Tử (551 đến 478 trước CN), nối tiếp qua Tăng Tử, Tử Tư và Mạnh Tử (372 đến 289 trước CN).

Phái Tăng Tử nước Lỗ truyền đến Mạnh Tử rồi không còn người nối được đạo thống nữa. Hậu nho cho rằng Nho giáo truyền đến đó là gián đoạn, mãi tới đời Tống mới có bọn Trình Hạo, Trình Di và Chu Hi tiếp nối được mối học cũ.

Cuối đời Chiến Quốc, các học phái Nho giáo tuy vẫn còn nhiều, nhưng phái nào cũng chỉ chuyên về mặt lễ nghĩa, chính trị thôi, bỏ mất cái học uyên áo lúc ban đầu. Xem như sau Mạnh Tử chừng mười năm mà Tuân Tử, tuy cũng là một tay cự phách của Nho giáo, mà học thuyết, tông chi đã có điều khác với tông chỉ của Khổng giáo rồi. Đến các đệ tử của ông là Lý Tư và Hàn Phi Tử, sự sai lệch càng lớn, biệt lập hẳn ra một phái, gọi là phái pháp trị.

Trong bốn trăm năm đời Lưỡng Hán, những nhà Nho học danh tiếng cũng khá nhiều, như các danh nho Đổng Trọng Thư, Dương Hùng, Vương Sung, có công sưu tầm những sách cũ, giải thích các ý nghĩa, xếp đặt các kinh truyện lưu truyền ở đời, nhờ vậy mà hậu thế mới biết rõ đạo thánh hiền, nhưng họ lại quá thiên về cái học chương cú, huấn hỗ, bỏ mất nghĩa lý sâu xa, thành thử tinh thần Nho giáo sai lạc đi mất nhiều. Phải đợi tới đời Tống, mới có các học giả nghiên cứu kinh điển, chỉnh lý lại những chỗ sai sót, góp nhặt các lời chú thích của tiên nho, thêm thắt những lời chú thích của các nhà nho đương thời, họp thành bộ TỨ THƯ TẬP CHÚ.

Theo lời thuật của Chu Hi, từ năm ba mươi tuổi, ông đã bỏ hết tâm huyết vào việc nghiên cứu kinh sách Nho học, viết ra các sách “Luận ngữ tập chú” và “Mạnh Tử tập chú”.

Ông lại tách hai thiên “Đại Học” và “Trung Dung” trong bộ Lễ Ký ra thành hai cuốn riêng biệt, bỏ công chú giải và gom nhặt ý kiến chú giải của các nhà nho khác, đặc biệt là của hai anh em họ Trình - Trình Hạo và Trình Di - mà ông tôn làm thầy, soạn ra hai cuốn “Đại Học chương cú” và “Trung Dung chương cú”.

“Trung Dung chương cú” là tâm pháp của Khổng Môn, là nguyên tắc tư tưởng của Nho gia truyền từ đời này sang đời khác, trong đó tác giả Tử Tư đề ra những tiêu chuẩn rất cao cho các hành vi đạo đức, đề xuất một phương pháp trong quá trình học tập là: học rộng, hỏi kỹ, suy nghĩ sâu, biện luận chính xác.

Vì thế mà “Đại Học” và “Trung Dung” mới chiếm địa vi rất cao, sánh ngang với “Luận Ngữ” và “Mạnh Tử”, họp thành bộ TỨ THƯ.

Thời gian Chu Hi dành cho việc soạn thảo bộ “TỨ THƯ TẬP CHÚ” gần như là cả cuộc đời, mà phương pháp làm việc của ông lại là điều khiến chúng ta vô cùng khâm phục.

Nghề in hoạt bản đã được phát minh rất sớm tại Trung Quốc, số kinh sách in ra cũng khá nhiều. Nhưng Chu Hi không đặt trọn tin tưởng vào các bản in mới. Ông để tâm tới những bản “cổ văn” được tìm thấy nơi vách nhà Khổng Tử, nhân dịp người ta phá nếp nhà cũ của ngài, để sửa lại thành nơi thờ tự Đức Thánh cho được trang nghiêm hơn. Những bản cổ văn đó chỉ là chữ khắc trên thẻ tre. Những thẻ này được khâu lại với nhau bằng chỉ. Nhưng qua hàng ngàn năm, chỉ khâu đứt, mối mọt đục phá, Chu Hi phải đối chiếu với các bản “kim văn” để thiết lập lại nguyên tác trong “cổ văn”. Ông đã làm việc với một tinh thần khoa học, không dựa theo sự suy đoán riêng tư để sửa chữa văn của cổ nhân. Chính vì thế, những kiến giải uyên bác của Chu Hi không những chiếm giữ địa vi chính thống trong nền học thuật Trung Quốc mà còn gây ảnh hưởng sâu rộng đến các nước lân cận Triều Tiên, Nhựt Bản và Việt Nam.

Ngày nay, tìm hiểu và dịch thuật Tứ Thư, chúng tôi trân trọng công trình nghiêm túc của Chu Hi trải qua hàng ngàn năm đã được coi là sách gối đầu giường của bao thế hệ nho sĩ, trí thức nước nhà. Và chúng tôi bám sát bộ TỨ THƯ TẬP CHÚ, tuyệt đối không thêm bớt một chữ. Tuy nhiên, về mặt hình thức, chúng tôi nhận thấy lối chia sách thành quyển, thành thiên như Chu Hi chưa được thỏa đáng. Vả chăng lối phân chia đó cũng không dựa trên một tiêu chuẩn thống nhất, nên chúng tôi mạn phép theo tập quán hiện thời, chia sách TỨ THƯ TẬP CHÚ thành các chương, mỗi chương sẽ gồm một số tiết cụ thể như sau:

1/ Sách “Luận Ngữ” gồm có 20 chương: Chu Hi chia thành hai mươi “thiên”, cứ hai thiên lại ghép với nhau thành một quyển. Chúng tôi bỏ lối chia sách thành quyển như thế.
2/ Sách “Mạnh Tử” gồm có 7 quyển, mỗi quyển lại phân làm 2 thiên: chương cú thượng và chương cú hạ. Chúng tôi sẽ chia sách thành 14 chương, chẳng hạn: chương đầu là “Lương Huệ vương chương cú thượng, chương thứ hai là “Lương Huệ vương chương cú hạ”, chương thứ ba là “Công Tôn Sửu chương cú thượng”, vân vân...
3/ Sách “Đại Học”, như chúng ta đều biết, gồm 1 chương kinh văn là lời của Khổng Tử, và 10 chương truyện là lời của Tăng Tử giải thích kinh văn. Chúng tôi sẽ chia thành chương như sau :
a/ Chương I: phần kinh văn.
b/ Từ chương II đến chương XI là phần truyện
4/ Sách “Trung Dung” gồm có lời giải thích của anh em Trình Hạo , Trình Di và Chu Hi, lời Tử Tư chép lại kinh văn và lời Tử Tư giải thích kinh văn. Những phần đó được xếp đặt xen kẽ nhau, chúng tôi theo đúng cách sắp xếp của Chu Hi, mà không xếp đặt lại, gồm tất cả là 33 chương